Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT SAU LỚP ÁO CÀ SA

Ít ai biết rằng, bên cạnh cuộc sống chay tịnh tưởng chừng rất khô khan, các vị sư tăng còn sở hữu một thế giới âm nhạc, vũ đạo sống động, đặc sắc và phức tạp tới mức để đạt được nó, họ đã phải trau luyện không khác gì những nghệ nhân thực thụ.
Ảnh: Đoàn Kỳ Thanh
Đàn Mông Sơn tại Chùa Nền, Hà Nội diễn ra khi Rằm Tháng Bảy mới chỉ qua được mấy ngày (17 tháng Bảy - Kỷ Sửu). Đây là khoa cúng lớn và lâu đời của Phật Giáo để tỏ lòng kính Phật, hiếu thuận với tổ tiên, cha mẹ và cúng thí cho các vong hồn nơi địa phủ đồng thời cũng là nghi lễ thể hiện rõ nhất tinh hoa của nghệ thuật Phật giáo với những màn cúng tế vô cùng tinh thông và lôi cuốn.
Ảnh: Đoàn Kỳ Thanh
Sau lễ Thỉnh Phật và Dâng Lục cúng kéo dài suốt ban ngày, chập tối, Lễ Cầu siêu với màn “Chạy đàn Phá Ngục” theo tích “Mục Liên tầm mẫu” bắt đầu. Khi ấy, giữa tiếng nhạc réo rắt, trống phách rập ràng đệm cho câu canh tiếng kệ ngân nga đưa đẩy, một nhà sư đạo mạo đội mũ hoa sen, áo cà sa, tay cầm tích trượng, quấn theo dải khăn trắng dẫn đầu đoàn lễ cung kính diễu qua năm đàn tế tượng trưng cho năm cửa ngục nơi địa phủ. Tiết tấu bỗng thay đổi khi vị sư đứng trước một cửa ngục cùng hai đồng tử cầm đèn hoa đăng. Trống, kèn, não bạt, thanh la, tiu cảnh…lập tức rộn lên dồn dập, chuyển sang một khúc nhạc mau hoạt đầy tính vũ điệu. Vị sư tay bắt quyết múa lượn liên hồi, dứt khoát, chân di chuyển theo nhịp trống mõ, khi khoan khi nhặt như vẽ những chữ vô hình lên mặt đất. Khi hai đồng tử múa vòng quanh, tay nhà sư uyển chuyển múa lượn, miệng lầm rầm đọc thần chú giữa tiếng trống mõ vang lừng của đám thầy pháp. Bỗng ai đó hét lên “Phá cửa ngục!!!”, nhà sư tay cầm trượng múa lên chiếc bát úp dưới đất, dí đầu trượng vào đít bát, di trên mặt đất tựa hồ như viết những mật chú rồi bất thần chọc vỡ tan chiếc bát. “Khóa cửa ngục” coi như đã mở, nhà sư tiếp tục chọc thủng màng giấy trước đàn tượng trưng cho “cửa ngục”. Cứ thế, nghi thức lại tái diễn với các “cửa ngục” còn lại trên nền trống kèn bạo liệt không ngừng.
Ảnh: Công Khanh
“Phá ngục” chỉ là một phần trong Đàn Mông Sơn - nghi lễ hội tụ đầy đủ các làn điệu đặc trưng của vũ, nhạc nhà chùa. Ở đây, các thầy cúng và sư tăng đều thể hiện những phương pháp âm nhạc độc nhất vô nhị như Canh, kệ, Tụng, Thỉnh, Bạch, Tấu…. hay những chiêu bắt quyết, lướt chân và uốn cổ tay mềm dẻo như rồng bay phượng múa giữa âm điệu biến ảo của dàn lễ nhạc. Quả thực, âm nhạc Phật giáo đã vượt qua những rào cản tín ngưỡng để trở thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc.
“Một thể loại âm nhạc thực thụ mang danh Phật Pháp”
Đó là nhận định của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền khi bàn về âm nhạc Phật Giáo. Anh cho rằng, việc chuyển hóa những giáo lý đồ sộ của nhà Phật thành lời ca với hệ thống âm điệu mang dấu vết dân ca bản địa là sự khôn ngoan của các nhà truyền giáo khi muốn thu phục lòng người. Ta có thể thấy âm màu của chèo, tuồng và nhiều thể loại dân ca khác trong các giọng nhạc của Phật Giáo.
Cũng theo anh Hiền, các nhà sư đã phát triển âm nhạc nhà chùa thành một hệ thống giọng điệu phong phú như Xướng lễ (man mác, tha thiết); Tụng (đọc kinh có nhịp điệu); Thỉnh (nói - hát kinh với âm vực rộng); Bạch (nhẩn nha, bình thản); Tấu (nhịp đọc sớ ngân nga); Chú (thầm thì, nhanh); Kệ (điệu hát – kể trường hơi); Canh (dàn trải, chậm dãi với nhiều đoạn i..a..kéo dài tối đa) v.v... Những phương pháp âm nhạc chuẩn mực chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của âm nhạc nơi cửa thiền.
Ảnh: Đoàn Kỳ Thanh
Sự đồ sộ với hơn 350 nghi lễ Phật giáo có xuất hiện âm nhạc và múa cho phép sư tăng đưa kỹ xảo diễn đạt biểu tượng tới mức tinh luyện. Chỉ riêng ý nghĩa của chuỗi động tác thủ ấn (bắt quyết) trong nghi thức múa đã vô cùng tinh tế. Hai bàn tay biểu tượng cho thế giới nhị nguyên, còn mười ngón tay được ví như thập giới. Vì vậy mỗi thế tay đều tượng trưng cho sự biến ảo giữa các giới với nhau trong tiểu vũ trụ tâm linh. Đó là chưa kể đến kỹ thuật di chuyển chân nhẹ như không trên mặt đất hết sức uyển chuyển, linh hoạt. Pháp sư múa càng dẻo, nhanh, phức tạp, sức hút và “tính thiêng” của đàn lễ càng mạnh.
Chỉ một câu “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát” các vị sư có thể ngâm nga đến gần 10 phút, còn những bài kinh kệ, thán thì kéo dài khôn cùng. Thử tưởng tượng, để phục vụ cho một đàn Mông Sơn hoàn chỉnh diễn ra trong 7 ngày không ngừng nghỉ với hàng trăm câu tụng, thán cùng diễn xướng, vũ đạo, các vị sư tăng, thầy cúng phải có nội lực cao sâu đến nhường nào?
Sư tăng, thầy cúng – những nghệ nhân cổ nhạc thực sự
Pháp sư, thầy cúng đồng hành trong các lễ cúng (ảnh: Đoàn Kỳ Thanh)
Đẳng cấp trình diễn của nhà sư, thầy cúng được thể hiện ở độ vang, sâu, đều nhưng biểu cảm, giọng khỏe, dai sức để thực hiện những đàn cúng lớn, kéo dài. Muốn vậy, các vị sư phải trải qua quá trình khổ luyện lâu dài với nhiều kỹ thuật ém hơi phức tạp. Thực tế, những kỹ thuật này không chỉ bắt nguồn từ giới các nhà sư mà còn được đóng góp bởi các nghệ nhân cổ nhạc ngoài dân gian. Nếu trong chùa lưu truyền chiêu ém hơi đẩy lên vòm xoang mũi để tạo giọng đều và tiết kiệm hơi, thì kỹ thuật vận hơi nén bằng cơ bụng nhằm tăng tính biểu cảm với lực “tận thổ can tràng” lại được học từ nghệ nhân dân gian. Nhiều trường hợp kỹ thuật âm điệu, vũ đạo trong chùa bị thất truyền, các sư lại tìm học từ thầy cúng bên ngoài. Đó là mối quan hệ khăng khít và gắn bó đã có từ ngàn đời.
Ảnh: Đoàn Kỳ Thanh
Anh Vũ Duy Sinh, một thầy pháp lâu năm với ít nhất ba đời lưu nghiệp cho biết, mặc dù cúng bái ở điện Tứ phủ thờ mẫu nhưng một thầy cúng khi đạt đến trình độ nhất định sẽ được phép hành lễ tại các Trai đàn của Phật Giáo như một vị tăng.“Bản thân tôi đã theo cha học nghề từ năm 9 tuổi nên hiểu đây là một pháp môn rất kỳ công. Vừa luyện chữ Hán, thuộc kinh, kệ, lại thêm luyện thanh, trống mõ, múa, bắt quyết…đâu phải ai cũng làm được. Vì thế, mỗi khi cần lập đàn, các sư thường cầu viện đến thầy cúng. Ba đời nhà tôi sống được cũng nhờ lẽ đó”, anh Sinh tâm sự.
Điều này cũng được nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền xác nhận. Anh cho biết, từ bao đời nay, đội thầy pháp và giới sư sãi đã trở thành một “đối tác chuyên nghiệp” trong thực hành nghi lễ chung nhất. Với thầy cúng, đó là một nghề, còn đối với nhà sư, đó là các kỹ năng cần thiết gắn liền với những nghi thức trọng đại của cuộc sống tu hành./.
Điệp Trần
(TTVH ngày 11.9.09)

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Nghệ nhân chế tác đàn Rơchâm Ti’h: DÂN CA CỦA NGƯỜI JARAI MÃI MÃI ĂN VÀO MÁU NGƯỜI JARAI


Khi đời sống hiện đại phủ khắp Tây Nguyên cũng là lúc những nét văn hóa cổ truyền của các tộc người nơi đây có phần lung lay và suy giảm. Hát nhạc mới thay vì dân ca, chơi nhạc tây thay vì những nhạc cụ cổ truyền đơn sơ mộc mạc, giới trẻ đã dần quên đi những nét đẹp và giá trị trường tồn của dân tộc mình. Di sản của cha ông giờ chỉ còn được ít người tận tâm lưu giữ. Nghệ nhân chế tác nhạc cụ cổ truyền người Jarai Rơchâm Ti’h là một trong số ấy. Để hiểu rõ hơn những tản mạn về giá trị cổ nhạc của dân tộc Jarai, PV đã có cuộc trò chuyện cùng anh.

NGƯỜI LƯU GIỮ TINH HOA CHẦU VĂN ĐẤT HÀ THÀNH



Khuôn mặt rạng ngời, râu tóc trắng, vóc dáng phương phi với giọng trầm vang hào sảng, ít ai nghĩ được một cụ ông 90 tuổi lại có được thần thái tinh anh như thế. Trong giới nghề, cụ Kha được coi là một trong những cung văn đại thụ, người nắm giữ không ít tinh hoa chầu văn đất Hà Thành.

Danh cầm Kim Sinh: DÒNG ĐỜI LÀ NHỮNG CUỘC HỘI NGỘ


Có lẽ, trong âm nhạc cổ truyền, ít ai có khả năng điêu luyện nhiều loại nhạc cụ như danh cầm Kim Sinh.  Với ông, cuộc đời không hẳn là đạt được thành tựu này, thành công nọ mà còn là những mối thâm tình thú vị với những tri kỷ có cùng tình yêu với cổ nhạc Việt.

Nghệ nhân Lê Bá Cao TRÚC DẪU CHÁY, ĐỐT NGAY VẪN THẲNG



Có người lên đồng, bảo cung văn phải hát bài Cây trúc xinh. Thấy vậy tôi dựng đàn đi luôn, không hát nữa. Bởi tôi hát phục vụ thánh, chứ không phục vụ những yêu cầu nhố nhăng như thế”, cung văn lão thành Lê Bá Cao khẳng khái.

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Nghệ sĩ ưu tú Đoàn Thanh Bình: KHI CUỘC ĐỜI LÀ NHỮNG “CHUYẾN ĐI”!


Khởi nghiệp bằng Tuồng, thành danh ở Chèo, lúc luống tuổi lại thử thách với Ca trù. Với NSƯT Đoàn Thanh Bình, cuộc đời luôn là sự vận động, giống như những “chuyến đi” để trải nghiệm mong thỏa mãn nỗi đam mê và gắn bó với âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ: Mộng tơ đồng còn mãi



Đến thăm ông vào một buổi chiều muộn. Chập tối, cái nhập nhoạng, ủ rũ của miền quê những tưởng được thể tràn về, song tiếng đàn văng vẳng đâu đây lại khiến lòng người ấm lại. Hóa ra, nhấp hớp trà tráng miệng sau bữa cơm chiều, ông lại lần dở cây đàn đáy, gẩy vài đoạn thân thương để nhớ về một chút xa xưa hoài niệm trong quá khứ. Tiếc nuối về những cây đàn đã mất, nhưng ông có biết đâu, chính mình đã là hóa thân thành một cây đàn. Tinh hoa chất chứa trong con người nghệ nhân đã đưa ông đến trình độ xuất thần, để hễ chạm vào bất kỳ cây đàn đáy nào cũng hiện ra hồn cốt ca trù và cả cái thần cổ nhạc tinh túy. Ông là Nguyễn Phú Đẹ - danh cầm đàn đáy còn sót lại của thế kỷ trước.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

NHỚ THIẾU NỮ TÂY NGUYÊN NGỰC TRẦN TRẢI NẮNG

Các cậu con trai hết lời ca ngợi vẻ đẹp của các cô nàng yêu quí: mái tóc, làn da và nhất là đôi vú mà người ta chẳng việc gì phải che dấu và đàn ông điên lên vì chúng, tới mức họ tạc hình chúng lên các cây gỗ trong nhà, từ cầu thang cho tới xà ngang[1].

Đầu tư cho tôn tạo di tích: CẨN THẬN KẺO “TIỀN MẤT TẬT MANG”!

Trong tổng số 15.400 tỷ mà Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch đề xuất trong chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2011 – 2015 thì 11.000 tỷ là dành cho việc tu bổ, tôn tạo di tích. Nhìn vào số tiền lớn ấy, có người mừng, có người lo. Mừng vì nhà nước quan tâm, lo là trong trào lưu “mới hóa” di tích như hiện nay, số tiền ấy sẽ được tiêu thế nào.

Chuyên đề: MỔ XẺ “MẦM BỆNH” TRONG TRÙNG TU DI TÍCH

“Làm chùa tô tượng đúc chuông, ba công đức ấy thập phương nên làm”, câu khẩu hiệu lớn ấy được chùa một ngôi chùa lớn trên đường Âu Cơ (Quận Tây Hồ, Hà Nội) đặt ở vị trí đẹp nhất, dễ dập vào mắt nhất để ai vào chùa cũng nhận ra thông điệp này. Chình ình hai bên khẩu hiệu là hai tượng sư tử cao tầm 2m đục bằng đá trắng oai vệ đặt chân lên một tảng đá tạc mấy chú sư tử bé hơn. Với phong cách hiện đại, tượng mang dáng vẻ uy phong chẳng khác nào chú sư tử trong phim bom tấn “Narnia” của Hollywood (!).

“PR” cho cổ nhạc Cổ nhạc lên mạng xã hội (Bài 2)


“Hi, chị Huệ ơi, tuần này em có thể nghe hát vào hôm nào ạ?”, nickname Thành Thịnh hỏi thăm trên trang mạng facebook. Ít giờ sau đã thấy chị Huệ trả lời comment[2] về thời gian và địa điểm của buổi biểu diễn mới của nhóm. Xem ra, nhờ mạng xã hội, khoảng cách giữa người nghệ sĩ và khán giả đã được rút ngắn rất nhiều.

“PR” cho cổ nhạc: Ngọc trong đá (Bài 1)


TS. Đặng Văn Bài, nguyên Cục trưởng Cục Di sản trong một buổi hội thảo từng nói, “cần nhận thức marketing di sản văn hóa như một loại công cụ hữu hiệu để góp phần tôn vinh di sản văn hóa dân tộc”. Nhận thức là vậy, tuy nhiên đến nay việc marketing cho di sản của Việt Nam vẫn chưa có một bước đi đáng kể. Tại sao vậy? Thu gọn vào chủ đề truyền thông cho du lịch cổ nhạc để có một cái nhìn cụ thể về vấn đề này.

PGS.TS. Lê Thị Hoài Phương: NGHỆ THUẬT TUỒNG ĐÃ XUẤT HIỆN NHỮNG “NGÔI SANG ĐANG MỌC”


Liên hoan sân khấu tuồng truyền thống toàn quốc 2011 vừa qua đã thành công tốt đẹp với 43 huy chương vàng, bạc, hầu hết đều dành cho những gương mặt trẻ. Đây là tín hiệu vui cho lớp kế cận của nghệ thuật tuồng. Để chia sẻ cùng độc giả thông tin trên, PV đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS.Lê Thị Hoài Phương, Trưởng ban Nghiên cứu Nghệ thuật, Viện VH- NT Việt Nam, người đã tham dự cuộc liên hoan lần này.

Nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan: LIÊN HOAN DÂN CA VIỆT NAM 2011 ĐÃ XUẤT HIỆN THÊM NHIỀU GIỌNG CA TRẺ


Liên hoan dân ca Việt Nam 2011 đã kết thúc giai đoạn đầu ở khu vực miền Bắc với đêm chung kết hôm 20.3 vừa qua. Đây là hoạt động lớn mang tầm quốc gia định kỳ 2 năm/lần do Đài THVN và Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phối hợp tổ chức. Mục đích của liên hoan là tìm kiếm và phát hiện các làn điệu dân ca nguyên thể, mang tính đặc trưng của vùng miền cùng những giọng hát dân ca đặc sắc.

CHUYỆN VỀ NHỮNG LỄ HỘI “BẠO LỰC”


Đánh nhau, chen lấn gây náo loạn, dùng hung khí cố tình gây sát thương…là những hành động vốn không thể chấp nhận trong xã hội văn minh. Ấy thế mà ở một số lễ hội, những cảnh mất kỷ cương ấy lại từng bị làm ngơ, thậm chí hô hào cổ vũ. Mùa lễ hội 2011 mới ngấp nghé khởi động, song những cảnh đáng buồn ấy dường như vẫn lặp lại.

TRUYỀN THÔNG CHO LÀNG NGHỀ: KHÓ Ở ĐÂU?


Bạn cho mình xin số điện thoại và email để nếu làng nghề có tổ chức sự kiện gì mình còn liên lạc” – lời đề nghị của anh quản lý gian hàng làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng trong một lễ hội quảng bá làng nghề gần đây khiến tôi khá bất ngờ. Bởi lẽ, cách làm việc chuyên nghiệp này vốn chỉ xuất hiện ở các sự kiện có những công ty truyền thông khi muốn mở rộng liên lạc với cánh nhà báo.

Thứ Năm, 23 tháng 12, 2010

Chủ nhiệm CLB Quan họ Đặng Xá Nguyễn Thị Kim Quýnh: “CHÚNG TÔI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG VIẾT DỰ ÁN XIN TÀI TRỢ”

Chị Nguyễn Thị Kim Quýnh (bên phải) và chị Nguyễn Thị Y là
hai liền chị trụ cột của làng Đặng Xá

Quan họ Đặng Xá là một trong số ít những làng có phong trào lưu giữ phục hồi quan họ cổ được đánh giá cao tại tỉnh Bắc Ninh. Đây cũng là nhóm nghệ nhân hiếm hoi từng được Quỹ Ford tài trợ cho dự án truyền dạy quan họ cổ cho lớp trẻ trong làng. Đến 9/2009, Quĩ Ford tạm biệt Hà Nội về Mỹ. Dù vẫn cam kết vẫn tiếp tục tài trợ cho các hoạt động khoa học, xã hội và nhân đạo tại Việt Nam nhưng cánh cửa để các nghệ nhân tiếp cận nguồn hỗ trợ dường như đã đóng lại.

CỔ NHẠC VẮNG HỌC TRÒ “CHÂN TRUYỀN”

Nghệ nhân hát văn Đào Thị Sại nay đã gần trăm tuổi
Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền từng đưa ra công thức n - 1,.., n -9, n -10…” để nói đến sự suy giảm của vốn cổ nhạc truyền lại sau mỗi lớp học trò hiện nay. Nếu ta chỉ đặt ra một chỉ tiêu ngắn mà không thực sự có học trò chân truyền, những người là mắt xích kế tục thế hệ trước thì tinh hoa cổ nhạc sẽ dần bị suy giảm, biến mất hoặc…biến thái.

Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2010

GS.TS Trần Văn Khê: Hồi ức xưa và một ước mơ nhân Đại lễ 1000 năm

Giáo sư Trần Văn Khê được biết đến như một người có công lớn trong việc truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam tới các bạn bè thế giới. Những công lao của ông được ghi dấu cùng những chuyến đi khắp năm châu bốn bể và ngay cả trên mảnh đất quê nhà. Trong quãng đời bôn ba đó, Hà Nội trong trái tim ông tựa như một người bạn khó quên. Hà Nội – Thời sinh viên trai trẻ, Hà Nội – nơi tìm kiếm tinh hoa cổ nhạc, Hà Nội – chút tiếc nuối cho di sản và Hà Nội – vài nhắn nhủ tới dịp đại lễ nghìn năm. Muôn mặt tình yêu với Hà Nội của Giáo sư Trần Văn Khê sẽ phần nào được gợi mở trong cuộc trò chuyện cùng ông.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2010

Đạo diễn Đỗ Bèn: Hành trình cùng “Thăng Long - ngàn năm thương nhớ”

Với đạo diễn Đỗ Bèn, cảm xúc cứ đầy lên sau mỗi chuyến ghi hình ở Hà Nội, để rồi khi trở về phương Nam, thành quả của anh và nhóm làm phim TFS là những phóng sự tiếp nối đầy chất thơ cho loạt ký sự 140 tập “Thăng Long - ngàn năm thương nhớ” hiện đang phát sóng trên HTV7 vào 22g40, trên HTV9 lúc 23g30 và phát lại đến tập 45 trên sóng VTV1 vào 23h25.

Được làm với phong cách “vừa đi, vừa khám phá”, loạt ký sự đang dần hé mở những góc nhìn mới mẻ của người phương Nam về Hà Nội. Một Hà Nội xưa cũ, thâm trầm và lặng lẽ? Hay là “đại công trường” của một thủ đô đang thời kỳ mở rộng? Vẻ đẹp tiềm ẩn của đất Hà Thành sẽ được những người đứng sau máy quay khám phá.

Để có được những thước phim chất lượng, đạo diễn Đỗ Bèn và đoàn làm phim của mình đã làm việc miệt mài hơn 1 năm nay qua những chuyến bay Hà Nội - Sài Gòn không ngừng nghỉ. Ngay cả trong đêm 30 Tết, đáng ra phải được đoàn tụ cùng gia đình, thì nhóm phải vác máy quay rong ruổi khắp phố phường Hà Nội để ghi lại những khoảnh khắc giao thừa. Kết quả là những thước phim đầy cảm xúc về Hà Nội ấy đãđoạt giải B báo chí Quốc gia về Nghìn năm Thăng Long ngày 4-10 vừa qua.

Lắng nghe những tâm sự của Đạo diễn Đỗ Bèn về hành trình cùng “Thăng Long - ngàn năm thương nhớ”, có thể ít nhiều hiểu được tấm lòng của người con Nam Bộ hướng về thủ đô Hà Nội.

- Có mặt ở Hà Nội đúng dịp đại lễ, đoàn làm phim của anh có ghi được nhiều cảnh thú vị không?

- Cũng không nhiều lắm, vì đợt đại lễ này rất đông nên khó chọn cảnh quay. Chúng tôi chỉ cố gắng chộp được những khoảnh khắc thú vị của không khí này thôi.

- Nhưng những ngày đại lễ rất đặc biệt?!

- Thực ra loạt ký sự “Thăng Long - ngàn năm thương nhớ” không chỉ có đại lễ. Đó là một bộ phim trải dài nói về lịch sử, văn hóa, địa lý của Hà Nội nói chung. Đại lễ chỉ là một điểm nhấn của bộ phim.

- Từ miền Nam ra đây làm phim về Hà Nội nhóm của anh có gặp nhiều khó khăn không?

- Điều khó khăn nhất đối với chúng tôi là khâu tổ chức. Ra Hà Nội với thời gian quay rất nhanh, kinh phí có hạn, ngoài ra phải liên hệ đủ thứ. Thứ nữa là mình biết không nhiều về Hà Nội nên cả đoàn phải làm việc cật lực. Bên cạnh đó, Hà Nội giai đoạn này đang là một “đại công trường” nên ghi hình rất khó.

- Một thành phố có bề dày lịch sử như Hà Nội có khiến anh mất nhiều công sức tìm hiểu?

- Trước khi đi chúng tôi đã tìm hiểu thông tin trên mạng và sách báo về Hà Nội. Nhưng thông tin trên mạng phải dè chừng, mình có những cái mình đọc thấy có nhưng khi đến nơi thì không phải. Sách về lịch sử Hà Nội không ít nhưng chưa có hội đồng thẩm định tính đúng sai, lại có ý kiến nhiều chiều. Ví dụ, có sách nói núi Sưa là núi Nùng, nhưng có sách lại nói núi Nùng ở ngay điện Kính Thiên. Với suy nghĩ, trách nhiệm với bộ phim là của chính mình, vì khó xác định như thế nên chúng tôi không nhờ đến cố vấn mà thay vào đó là đưa ý kiến của những nhà nghiên cứu có uy tín vào phóng sự. Họ sẽ tự chịu trách nhiệm về nhận định của mình.

- Với phong cách vừa đi vừa khám phá, chắc hẳn loạt ký sự sẽ có nhiều cảnh quay ngẫu hứng?

- Để chuẩn bị cho bộ phim, đoàn phải tìm hiểu rất nhiều thông tin về Hà Nội trước đó, nhưng muốn hay, phải do những cảm xúc ngẫu nhiên. Tết năm ngoái, chúng tôi đến Bát Tràng để quay cảnh chuẩn bị cho giao thừa. Dù có liên hệ trước và định quay rất bình thường, nhưng ngay lúc đó, tự nhiên mình thấy cái Tết của Hà Nội rất giống với cái Tết ở miền Nam. Cảm xúc đến ngay tức thì nên thành ra lời bình hoàn toàn mang cảm xúc của người thực hiện chương trình đang đứng tại chỗ viết về suy nghĩ của mình về Hà Nội như một lời tự sự.

- Nhiều người nói rằng Hà Nội bây giờ không còn cổ kính nữa. Anh nghĩ sao?

- Cái đó là tùy từng suy nghĩ của mỗi người thôi. Nếu một người làm phim đi phớt qua họ sẽ thấy Hà Nội không còn cổ kính nữa. Nhưng những người làm phim như chúng tôi sẽ có góc nhìn riêng của mình. Nếu đi qua một con đường, người bình thường sẽ thấy nó đen ngòm, nhưng nếu mình nhìn dưới góc độ văn hóa sẽ thấy bao thế hệ người đã đi qua con đường đó. Nói về mặt trái của phố phường rất dễ, nói về một Hà Nội yêu thương mới khó. Lấy hiện thực hôm nay để nói rằng quá khứ của nó đã từng đẹp như thế. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm ra cái đẹp của Hà Nội.

- Phản hồi của người dân TP Hồ Chí Minh với loạt ký sự này thế nào?

- Đa số người theo dõi đều rất thích vì bộ phim được làm theo một cách rất khác. Ban đầu nhiều người cho rằng nó sẽ thất bại vì mang tính tuyên truyền, thứ nữa là Hà Nội đã được nói đến nhiều rồi còn gì đâu mà quay. Nhưng khi phát sóng, nhiều đồng nghiệp bất ngờ và theo dõi bộ phim rất kỹ. Thậm chí có những người nhiệt tình, thấy gì chưa hay là góp ý liền.

- “Một cách rất khác” ở đây nghĩa là gì, thưa anh?

- Là mình nhìn Hà Nội dưới chiều sâu của nó. Chiều sâu của cuộc sống người hôm nay và người ngày xưa để thấy được vẻ đẹp ẩn chứa bên trong. Gặp một con ngõ nhỏ, lúc đầu chúng tôi kêu lên “trời ơi, Hà Nội sao có những con ngõ kỳ thế” nhưng đi vào lịch sử thấy ngày xưa con ngõ này từng là hầm, địa đạo... Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những người dân phố cổ từng đục tường liên thông các ngôi nhà giữa các con phố để cho quân ta di chuyển đánh giặc. Rồi thời Hà Nội 12 ngày đêm khói lửa, rất nhiều gia đình đã tự đào hầm trong nhà hay ngoài ngõ làm nơi trú ẩn tránh bom. Hiểu được lịch sử, mới thấy nó đẹp thế nào. Hay như về Cự Đà, có những ngõ “Lễ Nghĩa”, “Trí Tín” để tìm lại dấu vết của nền móng giáo dục xưa. Hoặc ở đường Thụy Khê có cổng làng ghi lại là “Mỹ tộc hạ phong” do vua phong cho làng có thuần phong mỹ tục thì mình mới hiểu là tại sao người Tràng An lại được coi là thanh lịch.

- Anh và đoàn làm phim đã thực hiện một “cuộc điền dã lớn về Thăng Long - Hà Nội” để hoàn thành 140 tập ký sự. Cảm xúc của anh trong suốt hành trình là gì?

- Nhiều lắm! Nhưng có lẽ cảm xúc mạnh nhất của cá nhân tôi chính là những gì mà tôi đã gửi gắm trong lời bình tập 1 “Hà Nội trong tôi” và tập 35 “Hà Nội nỗi nhớ” của loạt ký sự.

- Cám ơn anh về những cảm xúc rất chân thành về Hà Nội.

Đạo diễn Đỗ Bèn là gương mặt gạo cội và có nhiều kinh nghiệm làm phim ký sự tại Hãng phim truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS). Anh đã từng đoạt nhiều giải thưởng lớn về phóng sự, ký sự như: “Vui buồn với Di tích Cát Tiên” - Huy chương vàng Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 2002, “Người thêm sắc cho hoa” Huy chương Bạc liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 26 Cô giáo làng Vân” - Huy chương Bạc liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 26 - 2007 và gần đây nhất là phóng sự “Người giải mã cồng chiêng” đoạt giải cánh diều bạc 2009. Loạt ký sự “Thăng Long - Ngàn năm thương nhớ” cũng đã đoạt giải B báo chí quốc gia về đề tài 1000 năm Thăng Long diễn ra tại Hà Nội ngày 4-10-2010.

ĐIỆP TRẦN (thực hiện)

Đăng trên Nhân dân điện tử ngày 8.10.2010